Ông Andrew Wells-Dang, đại diện Quỹ Hoà giải và Phát triển, phân tích từng mục trong phán quyết dài 233 trang của thẩm phán Jack B.Weinstein ngày 10/3 về vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đối với các công ty hoá chất của Mỹ.
1/ Bên bị cho rằng nếu căn cứ vào luật Mỹ, bên nguyên chưa chứng minh được các công ty hoá chất đã biết đến những đặc tính riêng của dioxin mà chính phủ Mỹ không biết. Nói cách khác các công ty hoá chất có thể tuyên bố rằng: “Chính phủ bảo chúng tôi làm việc này và họ biết tối thiểu ngang với chúng tôi về những nguy hiểm của dioxin”. Đây cũng là trường hợp mà các cựu chiến binh Mỹ bị nhiễm chất độc da cam gặp phải khi gửi đơn kiện trước đây.
Điều này là hợp lẽ, nếu xét tới mối quan hệ gắn kết từ lâu giữa các nhà thầu quân sự với chính phủ. Tuy nhiên, các nguyên đơn đã đưa ra được một luận cứ mạnh mẽ rằng chính phủ chỉ ra lệnh cho các công ty làm thuốc diệt cỏ - chứ không phải là thuốc diệt cỏ với nồng độ dioxin cao. Quyết định của tòa án còn dẫn tới một hệ quả xấu là các công ty có thể lẩn trốn trách nhiệm, bởi vì họ lập luận rằng chính phủ cũng phải bị coi là có tội.
2/ Các công ty hoá chất cho rằng, không thể đưa các chuẩn mực của luật quốc tế và vấn đề vi phạm nhân quyền ra áp dụng trong việc này. Còn bên nguyên không chứng minh được việc Mỹ sử dụng chất diệt cỏ vi phạm luật pháp quốc tế. Đây là lý do chính khiến vụ này bị bãi bỏ.
Thẩm phán Weinstein công nhận tính hiệu lực của luật pháp quốc tế đối với nước Mỹ, điều mà bên bị đã cố gắng phủ nhận. Luật cụ thể của Mỹ có thể áp dụng trong trường hợp này là Alien Tort Statute, còn có tên gọi khác là Alien Tort Claims Act, tức ATCA. (Alien Tort Claims Act được Quốc hội đầu tiên của Mỹ thông qua năm 1789. Luật này quy định rằng toà án Mỹ có thẩm quyền xét xử các vụ kiện của những người nước ngoài, nếu họ chịu thương tổn vì "luật pháp của các nước" hay một hiệp ước của Mỹ bị vi phạm). Vì vậy, để thắng kiện, các nạn nhân cần phải chứng minh các công ty hoá chất vi phạm luật pháp quốc tế. Việc này không dễ dàng, nhất là tại một toà án Mỹ.
3/ Thẩm phán Weinstein cho rằng, các lập luận của bên nguyên về nguyên nhân gây ra những thương tật của họ chưa đủ thuyết phục. Mặc dù ông đồng ý rằng bên nguyên có tiếp xúc với thuốc diệt cỏ, theo ông, các số liệu nghiên cứu chưa chứng minh được là điều này dẫn tới thương tật của họ. Thẩm phán còn cho rằng những lời kể của bên nguyên mang tính “giai thoại” và chưa có đủ bằng chứng để đưa ra trước một toà án Mỹ.
Tiền lệ các cựu chiến binh Mỹ chịu chất độc da cam nhận bồi thường bên ngoài toà năm 1984 cũng không giúp được gì, vì trong trường hợp đó, việc trợ cấp cho các cựu chiến binh không đòi hỏi bất kỳ bằng chứng nào về nguyên nhân thương tật.
Thẩm phán không nói rằng lập luận của bên nguyên là sai hay không liên quan đến dioxin, chỉ là chưa có đủ bằng chứng để đưa ra trước toà án. Lập luận trước đây của các cựu chiến binh Mỹ được toà công nhận, vì xét theo khía cạnh chính trị, chỉ cần thẩm phán tin rằng họ có vấn đề về sức khoẻ để nhận tiền bồi thường là được. Trong những trường hợp quy trách nhiệm của các công ty hoá chất khác (chẳng hạn như vụ kiện ở California được miêu tả chi tiết trong bộ phim “Erin Brockovich”), người ta chỉ cần chứng minh là có một tỷ lệ cao nhiễm bệnh trong cộng đồng dân chúng tiếp xúc với chất độc. Điều này đã được chỉ rõ ở Việt Nam, trong các công trình nghiên cứu do các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế tiến hành. Vì vậy, việc ông Weinstein đòi hỏi “các bằng chứng” theo những chuẩn mực áp đặt từ bên ngoài là một khía cạnh chuyên môn tế nhị.
4/ Chất độc da cam (agent orange) nên được gọi là thuốc diệt cỏ, chứ không phải chất độc, mặc dù dioxin là một chất độc. Tác động tiêu cực của chất độc da cam là “vô tình gây thương vong”, mục đích của thuốc diệt cỏ chỉ là giết cây cối chứ không phải làm tổn thương cho con người.
Quan điểm này có vẻ rối rắm. Chất độc da cam có chứa dioxin, bởi vậy nếu dioxin bị coi là độc thì tại sao chất độc da cam lại không bị coi như vậy? Liều lượng của nó đủ để gây hại cho người. Đây là một điểm yếu quan trọng trong phán quyết của Weinstein mà bên nguyên có thể khai thác thêm khi khiếu nại.
5/ Việc toà án ra lệnh cứu trợ là “không khả thi”, vì như vậy một toà án Mỹ sẽ phải đến một nước khác để giám sát, trong trường hợp này là hoạt động tiến hành xét nghiệm tại môi trường và công tác thu dọn hậu quả. Điều đó có thể xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam. Nói cách khác, một toà án Mỹ không có thẩm quyền để ra lệnh tiến hành cứu trợ.
Thực ra, lệnh cứu trợ có nghĩa là toà án ra lệnh bên bị phải có hành động cụ thể, khác với bồi thường bằng tiền. Tuy nhiên, Weinstein loại trừ trước khả năng này, lấy lý do hoàn cảnh thực tế. Một lần nữa, nó cho thấy những hạn chế của toà án Mỹ. Các công ty có thể đi khắp thế giới và phá huỷ môi trường, nhưng các toà án Mỹ lại không có quyền ra lệnh giải quyết hậu quả? Dĩ nhiên, Việt Nam và nhiều nước khác cũng thiếu những luật để áp dụng trong những trường hợp như thế này. Việt Nam là một quốc gia coi trọng chủ quyền, nhưng thật khó tưởng tượng họ sẽ phản đối lệnh giải quyết hậu quả những địa điểm bị nhiễm chất độc da cam hay các cơ sở quân sự cũ của Mỹ.
6/ Hội Nạn nhân Chất độc Da cam Việt Nam (VAVA) là một tổ chức hợp pháp có đủ tư cách để gửi đơn kiện. Nó không phải là một cơ quan của chính phủ và có khả năng đại diện cho các thành viên của mình, những người cũng có quyền đâm đơn với tư cách cá nhân.
Ở đây, thẩm phán Weinstein bác bỏ lập luận của bên bị khi họ tỏ ra nghi ngờ tính hợp pháp của VAVA.
7/ Trong một số trường hợp, có khả năng kiện các công ty vi phạm luật pháp quốc tế.Các công ty không thể lúc nào cũng được miễn trừ trách nhiệm.
Đây có vẻ là điều hiển nhiên. Tuy nhiên, trên thực tế, ở Washington, các nhóm vận động hành lang đại diện các tập đoàn nhiều lần gây sức ép lên Quốc hội và Toà án tối cao đòi phải được miễn trừ trách nhiệm đối với luật pháp quốc tế. Điều thú vị là các công ty có thể tự coi mình là “các cá nhân” trong luật pháp nếu việc đó phù hợp với lợi ích của họ, nhưng lại tự xếp mình vào một hạng mục khác, khi nó bất lợi cho họ.
Quyết định của thẩm phán có thể giúp tạo nên một tiền lệ cho phép các vụ kiện trong tương lai chống lại các công ty đã vi phạm luật pháp quốc tế.
8/ Luật Alien Tort Statute (đề cập ở trên) không nêu rõ những mức hạn định cụ thể trong việc áp dụng, các luật lệ quốc tế được xét trong trường hợp này cũng vậy. “Vì thế nên tránh tạo ra hay áp dụng những quy định cứng nhắc, hạn hẹp mới xuất hiện trong lĩnh vực luật pháp quốc tế còn ở thời kỳ phát triển”. Weinstein mở ra khả năng là vấn đề này có thể được khai thác thêm, khi bên nguyên khiếu nại.
Quyết định đã làm suy yếu một trong những vật cản chính của vụ kiện. Các luật lệ khác nhau có những mức hạn định khác nhau, nhất là luật pháp trong nước Mỹ. Tuy nhiên, ông Weinstein ủng hộ áp dụng luật một cách linh hoạt.
9/ Thẩm phán bác bỏ lập luận của bên bị rằng vụ kiện can thiệp vào đường lối đối ngoại của Mỹ. Ông cũng phê phán Bộ Tư pháp, vì họ không thừa nhận Mỹ cũng bị ràng buộc bởi luật pháp quốc tế. Thời chiến cũng không ngoại lệ, quyền lực của tổng thống khi đó cũng phải bị giới hạn. Các toà án luôn phải đứng ra, khi có vấn đề liên quan đến luật quốc tế.
Ở đây, Weinstein bác bỏ tuyên bố của chính phủ Mỹ, nhất là quan điểm cho rằng bên hành pháp có thể tự mình quyết định nên theo những luật lệ nào của quốc tế. Thay vào đó, ông đồng tình với Trung tâm Quyền Hiến pháp và các tổ chức phi chính phủ khác.
10/ Bồi thường chiến tranh không tương ứng với trường hợp này. Đây không phải là một vụ việc giữa một chính phủ với một chính phủ mà một vụ kiện giữa các cá thể. Weinstein cũng nhận định rằng việc bồi thường chưa được thực hiện, cũng chưa được thảo luận sau chiến tranh Việt Nam, khác với Thế chiến II và nhiều cuộc chiến khác.
Thẩm phán bác bỏ lập luận của bên bị và Bộ Tư pháp rằng bên nguyên đang đòi bồi thường chiến tranh. Tuy nhiên, ông không đề cập đến việc ngoại trưởng trước kia của Mỹ Kissinger từng hứa bồi thường trong thương thuyết hoà bình Paris năm 1973, sau đó thất hứa.
Minh Châu (dịch)