Vietnamese English

Những điểm mạnh yếu trong phán quyết của Mỹ vụ dioxin (2)

 

Trong phần cuối bài phân tích các lập luận trong phán quyết của thẩm phán Jack B.Weinstein, tác giả Andrew Wells-Dang tập trung vào những luật, công ước và nghị định thư quốc tế được nêu ra trong vụ kiện.

11/ Thẩm phán Weinstein để ngỏ khả năng cho phép bên nguyên trình thêm thông tin về chất độc da cam trong tiến trình khiếu nại. Thẩm phán viết: “Nếu toà phúc thẩm đảo ngược phán quyết do không đồng tình với những lý lẽ đã nêu ở đây, toà sẽ cho phép nghiên cứu thêm về bệnh dịch và các nguyên nhân y tế”.

Điều đó có nghĩa là Weinstein không muốn bác vụ kiện chỉ vì lý do thiếu bằng chứng về nguyên nhân thương tật của các nạn nhân (đã bàn đến ở điểm 3). Việc này mở thêm khả năng cho khiếu nại, nếu bên nguyên có nghiên cứu mới về sự liên quan giữa dioxin và sức khoẻ con người.

12/ Để chứng tỏ các luận điểm về luật pháp quốc tế của mình, bên nguyên phải chỉ ra được những điều sau: (a) sử dụng chất diệt cỏ là phạm pháp theo luật quốc tế, (b) bên bị biết mục đích sử dụng sản phẩm, (c) họ cung cấp sản phẩm và trở thành một phần của hoạt động phạm pháp. Theo ý kiến của thẩm phán, các nạn nhân mới chứng minh điểm (b) và (c), nhưng điểm (a) thì chưa được.

Mặt khác, bên bị cũng không thể lấy lý do bị ép buộc, vì không hề có hình phạt nghiêm trọng nào dành cho họ, nếu họ không làm theo hợp đồng chính phủ.

Điểm này đa phần dựa vào tiền lệ các phiên xử Nuremberg sau Thế chiến II. Trong những phiên toà đó, các bị can thường tìm cách chứng tỏ rằng (b) họ không biết sản phẩm mình cung cấp sẽ được dùng trong các phòng giết người tập thể của phát xít Đức.

13/ Vị thẩm phán xem xét mục đích của việi sử dụng chất diệt cỏ ở Việt Nam và kết luận rằng chất diệt cỏ không được “sử dụng với mục đích cố tình gây ra đau đớn và tổn thương. Chúng được dùng để giết cây cối”. Tổn hại đến người chỉ là “phản ứng phụ”. Vì vậy, nhiều mảng trong luật pháp quốc tế (tra tấn, tuỳ tiện giết người, thảm sát) không thể áp dụng trong trường hợp này, vì tất cả đều yêu cầu bằng chứng cụ thể về ý định gây hại.

Bên nguyên lập luận rằng các công ty hoá chất đã hành động “bừa bãi và liều lĩnh” khi sản xuất ra những chất diệt cỏ mà họ biết là có chứa dioxin và có thể gây hại cho người. Việc các chất này có mục đích sử dụng chủ yếu là làm rụng lá không phải là lý do chính đáng. Có vẻ như thẩm phán Weinstein đã nhầm lẫn giữa bên bị (các công ty hoá chất) và những người trực tiếp sử dụng chất diệt cỏ (các binh lính Mỹ). Các binh lính không biết mức độ nguy hiểm của chất diệt cỏ và không sử dụng chúng với mục đích để gây tổn thương cho người. Tuy nhiên, các công ty lại biết rõ điều này và cố tình tiếp tục làm ra những sản phẩm có nồng độ dioxin cao.

Dĩ nhiên, việc lẫn lộn các công ty với binh lính và chính phủ chính là chiến thuật mà bên bị thường xuyên áp dụng trước toà. Vì vậy, trong quá trình khiếu nại, bên nguyên nên xoáy vào mức độ hiểu biết của các công ty và mục đích của họ. Thuốc lá, amiăng và nhiều sản phẩm khác không có mục đích là làm hại người khác, nhưng chúng vẫn gây hại đấy thôi. Những công ty làm ra những sản phẩm này đã phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, vì họ đã biết trước về tác hại của chúng nhưng lại không chịu công bố gì hết.

14/ Phần còn lại của phán quyết xem xét những công ước cụ thể, định nghĩa về luật pháp quốc tế và liệu chúng có thể áp dụng cho vụ kiện chất độc da cam hay không.

Mỹ không phải là thành viên của các hiệp ước chống vũ khí hoá học cho đến sau thời kỳ họ sử dụng thuốc diệt cỏ, và các hiệp ước này không có hiệu lực trước đó. Tương tự Mỹ không gia nhập hiệp ước về thảm sát cho đến năm 1988.

Vì vậy nếu muốn tìm cơ sở pháp lý, nó cần phải dựa trên một công ước mà Mỹ là thành viên vào thời điểm đó, hay dựa vào “thông lệ quốc tế”, nghĩa là một thông lệ được cộng đồng thế giới chấp nhận vào lúc đó và có thể coi là có tính ràng buộc với ngay cả những nước chưa tham gia các hiệp ước liên quan.

Các nạn nhân lập luận rằng việc sử dụng quá mức chất diệt cỏ có thể coi là phạm luật. Thẩm phám Weinstein cũng không chấp nhận luận điểm này.

15/ Vào thời điểm đó, Mỹ là thành viên Công ước La Haye 1907. Công ước này cấm dùng chất độc và vũ khí “một cách có tính toán để gây ra những đau đớn không cần thiết”. Weinstein không cho rằng có thể xếp chất độc da cam vào điều khoản này, vì khi đó chất diệt cỏ chưa được quy vào một hạng mục nào. Theo ông, Công ước La Haye không thể áp dụng đối với các vũ khí hoá học, bởi chúng được sử dụng rất nhiều thời Thế chiến I.

Lập luận cho rằng một công ước không thể áp dụng với một loại vũ khí, vì loại vũ khí về sau mới được sử dụng, có vẻ không xuôi. Chẳng lẽ không thể nói những nước tham chiến thời Thế chiến I đã dùng khí độc một cách trái phép hay sao?

16/ Mỹ không tham gia Nghị định thư Geneva 1925 về vũ khí hoá học cho tới năm 1975. Thậm chí tới khi đó, Mỹ vẫn giữ quan điểm rằng nghị định thư này không áp dụng cho chất diệt cỏ. Weinstein cho rằng nghị định thư Geneva “để nhiều chỗ trống cho những cách hiểu khác nhau”. Thẩm phán thừa nhận ông đang theo “cách hiểu hạn hẹp” của luật quốc tế, theo đó các lệnh cấm chỉ áp dụng với những loại vũ khí cụ thể, chứ không phải các hạng mục vũ khí nói chung.

Trong các phán quyết về cách áp dụng luật Alien Tort Statute (phần 2, 7, 8 và 9), thẩm phán Weinstein dường như ủng hộ cách diễn giải luật theo nghĩa rộng. Ở đây ông lại thiên về nghĩa hẹp. Tại sao lại có sự mâu thuẫn như vậy?

17/ Thẩm phán tin rằng thông lệ quốc tế đòi hỏi phải có sự đồng thuận quốc tế. Nhưng các nước khác cũng sử dụng chất diệt cỏ, cụ thể là Anh từng dùng ở Malaya những năm 1950. Ngoại trưởng Dean Rusk từng sử dụng dẫn chứng này để thuyết phục tổng thống Kennedy rằng Mỹ cũng được phép làm như vậy. Và Công ước về Vũ khí Hoá học chưa đủ để để tạo nên thông lệ. Lệnh cấm cụ thể về chất diệt cỏ không tồn tại.

Lập luận cho rằng không có sự đồng thuận quốc tế dựa quá nhiều vào ý kiến của riêng chính phủ Mỹ. Các nhà lãnh đạo Mỹ từng ra lệnh sử dụng chất độc da cam dĩ nhiên tin rằng nó không chống luật quốc tế, vì họ có lợi ích riêng khi tuyên bố như vậy. Phán quyết của thẩm phán không đả động gì đến quan điểm của những người Việt Nam, mặc dù cũng có thể bắt bẻ rằng quan điểm của họ ở thời điểm đó cũng không đáng tin cậy, vì họ có lợi ích riêng khi nói rằng chất diệt cỏ là phạm pháp. Nhưng còn quan điểm của những nước khác trong cộng đồng quốc tế (ngoài liên minh Mỹ-Anh ra)? Trong một vụ kiện có liên quan đến luật pháp quốc tế, ý kiến của các nước cũng rất quan trọng.

18/ Năm 1969, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc bỏ phiếu với tỷ lệ 80/ 3 thông qua nghị quyết lên án việc dùng chất diệt cỏ làm vũ khí chiến tranh. Nghị quyết này rõ ràng nhằm vào việc sử dụng chất độc da cam của Mỹ. Tuy nhiên, các nghị quyết của Đại hội đồng không mang tính ràng buộc pháp lý và chỉ mang tính khuyến cáo. 50 nước bỏ phiếu trắng.

Giả sử một nghị quyết tương tự được đưa ra Hội đồng Bảo an, nơi có tính ràng buộc pháp lý, nó vẫn sẽ thất bại do quyền phủ quyết của Mỹ. Vì thế một nghị quyết của Đại Hội đồng không thể coi là một tuyên bố của luật pháp quốc tế.

Một lần nữa, phán quyết này của thẩm phán dựa quá nhiều vào cách diễn đạt của Mỹ về khái niệm cái gì là hợp pháp và cái gì không hợp pháp. Có thể hiểu rằng những nước bỏ phiếu trắng đã làm như vậy vì nhiều lý do, trong đó có việc không muốn làm mếch lòng Mỹ. Rõ ràng ý kiến của quốc tế thiên về chống lại sử dụng chất diệt cỏ. Trên thực tế, đây chính là một nguyên nhân lý giải cho quyết định ngừng chiến dịch Ranch Hand của Mỹ năm 1971.

Một lập luận thú vị do bên nguyên đưa ra mà không thấy nhắc đến trong phán quyết của thẩm phán. Đó là qua việc cất trữ chất diệt cỏ trong các thùng không đề chữ và dùng các máy bay cố tình in sai dấu hiệu (hình của chính quyền Nam Việt Nam thay vì của Mỹ) để rải thuốc, Washington đã cho thấy họ biết rõ có thể đã làm một việc vi phạm thông lệ quốc tế.

19/ Thẩm phán thừa nhận rằng luật quốc tế về môi trường đã thay đổi nhiều kể từ khi Mỹ chấm dứt thả chất diệt cỏ, và những gì mà mà ông cho là không phạm pháp khi đó bây giờ có thể là phạm pháp. Mỹ phê chuẩn Nghị định thư Geneva năm 1975 và đưa ra chủ trương phê phán việc dùng chất diệt cỏ thời chiến. Tuy nhiên, “vì hành động dùng chất diệt cỏ của Mỹ mà bên nguyên khiếu nại đã chấm dứt từ lâu năm trước 1975, mà tới tháng 4/1975 Tổng thống Ford mới có tuyên bố và Thượng viện khi đó mới phê chuẩn Nghị định thư Geneva 1925 cùng Công ước Vũ khí sinh học".

Nói cách khác, việc sản xuất và sử dụng chất diệt cỏ vẫn có thể coi là hợp pháp thời kỳ 1961-71 và chỉ bất hợp pháp từ năm 1975. Người ta có thể tự hỏi liệu tội ác chiến tranh, diệt chủng và những tội ác tương tự có thể định nghĩa một cách hạn hẹp như vậy tại toà án hay không?

Việc Mỹ thay đổi chính sách sau Chiến tranh Việt Nam rõ ràng là một dấu hiệu tiến bộ nhưng nó cũng cho thấy họ đã tụt hậu so với thời đại, vì Nghị định thư Geneva đã tồn tại từ 50 năm trước đó.

20/ Vì những lý do trên đây (điểm 14 – 19), thẩm phán Weinstein kết luận rằng không có luật quốc tế nào có thể áp dụng ở đây, và vụ kiện bị bãi bỏ.

Người đọc có thể bất bình hay đồng tình về các mặt của phán quyết này. Phán quyết trên không phải là cuối cùng và có thể khiếu nại lên một toà án cao hơn.

Minh Châu (dịch)

Phần I

Việt Báo (Theo_VnExpress.net)

Viết bình luận


Bình luận